Thành tích học tập (Academic Perfomance) là một phần không thể thiếu trong bộ hồ sơ du học Mỹ của các em học sinh. Phần này bao gồm điểm số trên lớp, cụ thể là điểm trung bình môn của từng học kì (hay còn gọi là GPA - Grade Point Average) và của các bài thi chuẩn hóa quốc tế, được các trường đại học Hoa Kì sử dụng như những yếu tố cần và đủ cho bộ hồ sơ.
 

Những điểm số này là: IELTS hoặc TOEFL (Bắt buộc phải có một trong hai, là bài thi chứng minh năng lực sử dụng Anh ngữ), SAT hoặc ACT (Không bắt buộc, tùy yêu cầu của từng trường, là bài thi năng lực học thuật tương đương với tốt nghiệp THPT) và các bài thi tự chọn khác nhằm gia tăng sức nặng của bộ hồ sơ như: SAT II (SAT Subject Test) hay AP (Advanced Placement).

các bài thi chuẩn hóa
 

Một trong những câu hỏi mà HOLA Academy nhận được nhiều nhất từ các em học sinh cũng như các vị phụ huynh, và trung tâm tin rằng ngoài kia cũng đang có rất nhiều bạn cũng băn khoăn về vấn đề này, đó là: Nên chọn SAT hay ACT để thi trong khi giá trị của 2 chứng chỉ này là như nhau?
 

Chính vì vậy, trong bài viết lần này, đội ngũ học thuật của HOLA Academy sẽ cung cấp cho các em những điểm khác biệt giữa SAT và ACT, hay còn là các tiêu chí để lựa chọn giữa hai kì thi này. Nào, chúng ta cùng bắt đầu nhé!

1. Phân biệt dựa vào nội dung tổng quát của bài thi

SAT

  • Tổng thời gian làm bài thi SAT là 3 tiếng, hoặc 3 tiếng 50 phút nếu có làm viết luận.
  • Tổng điểm là 1600 với Toán (800) và Đọc-Viết (800).
  • Tất cả các thí sinh tại Hoa Kì hay quốc tế đều phải làm bài thi SAT trên giấy.
  • Bao gồm các phần thi khá gần gũi với IELTS hoặc TOEFL: Đọc hiểu (Reading), Viết (Writing), Toán (Math) và phần viết luận (Essay) tự chọn.
  • Đọc hiểu: Kiểm tra hiểu biết thông qua các đoạn văn về Mỹ, về văn hóa, lịch sử/xã hội học và khoa học thế giới, có thể đoạn văn được đưa vào đề thi sẽ là hiến pháp Mỹ hoặc các văn bản chính trị. Phần đọc hiểu của SAT còn có dạng câu hỏi evidence support (tìm dẫn chứng).
  • Toán: Kiểm tra các kiến thức toán đã được học ở THPT Mỹ.
  • Viết và ngôn ngữ: Kiểm tra về dấu câu, trật tự câu trong đoạn và các kiến thức tiếng Anh cơ bản tới khá.
  • Viết luận: Kiểm tra kĩ năng viết, tư duy phản biện và phân tích đề thi.

ACT

  • Tổng thời gian làm bài thi ACT là 2 tiếng 55 phút hoặc 3 tiếng 25 phút với phần thi Viết luận
  • Điểm số của ACT được tính trung bình của các phần thi với điểm tối đa mỗi phần là 36.
  • Từ tháng 09/2018, ACT triển khai thi trên máy tính đối với các học sinh quốc tế (cụ thể ở đây là Việt Nam) với nhiều đợt thi hơn, còn các học sinh tại Mỹ vẫn thi trên giấy như bình thường.
  • Bao gồm các phần thi khá mới đối với học sinh Việt Nam: Tiếng Anh (English), Toán (Math), Đọc hiểu (Reading) và Khoa học (Science)
  • Tiếng Anh: Kiểm tra các quy tắc ngữ pháp tiếng Anh từ cơ bản đến phức tạp, cách đặt và sử dụng dấu câu, và tính logic của các câu trong đoạn văn.
  • Toán: Kiểm tra các kiến thức toán đã học tại THPT Mỹ, nghĩa là có bao gồm cả các kiến thức lạ VD như ma trận, logic học...
  • Đọc hiểu: Kiểm tra kĩ năng đọc hiểu ở 4 loại văn bản khác nhau (sẽ nói kĩ ở phần dưới) trong thời gian ngắn.
  • Khoa học: Kiểm tra cách phân tích và tư duy đọc hiểu số liệu khoa học, cụ thể là các lĩnh vưc VD như vật lí, hóa học, sinh học, địa lí,...
  • Viết luận: Dùng ý kiến và lập luận của mình để trả lời một vấn đề được giao.

2. Phân biệt dựa vào nội dung cụ thể từng phần thi

Hàm lượng kiến thức toán học

SAT 

  • Kiến thức hình học và lượng giác chỉ chiếm tầm 10% tổng số câu hỏi trong phần Toán.
  • Tập trung vào phân tích dữ liệu, đại số và giải toán.
  • Các công thức toán học cần thiết, phục vụ cho việc tìm ra đáp án các câu hỏi có trong bài thi sẽ được cung cấp ở phần đầu đề thi.
  • Máy tính được sử dụng cho 37 câu (55 phút), và 20 câu (25 phút) còn lại không được sử dụng máy tính.

ACT 

  • Kiến thức hình học và lượng giác chiếm tới 75% tổng số câu hỏi trong phần thi Toán.
  • Tập trung kiểm tra: Đại số cơ bản, đại số nâng cao, hình học tọa độ, hình phẳng và lượng giác.
  • Thí sinh không không được cung cấp các công thức toán học ở đề thi mà bắt buộc phải học thuộc và thực hành nhiều để ghi nhớ.
  • ACT cho phép thí sinh dùng máy tính xuyên suốt phần thi Toán.

Phần đọc hiểu  

SAT 
  • Phần đọc của SAT là các văn bản được đưa ra ngẫu nhiên (không được thông báo, quy định trước sẽ thuộc thể loại gì). Đó có thể là văn học, tiểu thuyết, truyện ngắn viễn tưởng, bài báo khoa học, hiến pháp Mỹ hoặc các văn bản chính trị.
  • Yêu cầu một lượng từ vựng rộng và có tính học thuật cao. Tuy quá trình ôn luyện khó nhưng sẽ rất có ích cho cuộc sống đại học sau này.
  • Bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm (multiple choices) và cả dạng evidence support, nghĩa là sau một số câu hỏi sẽ là các câu hỏi phụ yêu cầu đưa ra dẫn chứng trong đoạn, do đó thí sinh nên có tư duy lập luận cũng như kĩ năng tìm kiếm, xác định thông tin nhanh nhạy. Việc ôn luyện có thể khá khó khăn, vất vả nhưng sẽ giúp ích cho cuộc sống học thuật khi bước vào đại học rất nhiều.
  • Thời gian trung bình để thí sinh suy nghĩ và trả lời câu hỏi là vừa đủ. Thí sinh sẽ không bị quá áp lực về mặt thời gian khi làm bài.

ACT

  • Thí sinh được thông báo trong format luyện thi là các bài đọc hiểu sẽ rơi vào thể loại nào: Xã hội học (social studies), khoa học tự nhiên (natural science), văn học (literary narrative hoặc prose fiction) và nhân văn (humanities).
  • Không yêu cầu nhiều từ vựng phức tạp hay học thuật, 70% là các từ vựng đã quen thuộc từ kì thi TOEFL, 30% còn lại ở mức độ khó hơn nhưng cũng không khó như từ vựng SAT. Có thể giúp ích cho việc ôn luyện ACT dễ dàng hơn nhưng khi tiếp cận với tài liệu đại học, sinh viên rất dễ bị “sốc văn hóa”.
  • Chỉ bao gồm các câu hỏi trắc nghiệm, không có dạng evidence support như của SAT.
  • Áp lực thời gian rất căng thẳng, 40 câu hỏi cho 35 phút, trung bình thí sinh phải trả lời được 1 câu trong 52 giây, nghĩa là chưa đầy 1 phút. Chưa kể, bài đọc nào cũng dài kín 1 trang giấy A4 với cỡ chữ nhỏ.
sat hoặc act

Phần viết luận

SAT

  • Học sinh có 50 phút để phân tích một văn bản 650-750 chữ và hoàn thành bài luận.
  • Bài luận kiểm tra khả năng đọc, phân tích và viết, đòi hỏi học sinh phân tích tài liệu và giải thích luận điểm của tác giả
  • Yếu tố quan trọng đầu tiên là tính quan điểm nhằm dẫn dắt người đọc tới ý kiến cá nhân của thí sinh. Đặc biệt, tính quan điểm cần phải được thống nhất xuyên suốt bài viết, nếu không sẽ gây ra những tác dụng trái chiều.
  • Thứ 2 là tính logic. Tính logic thể hiện sự liên kết của các đoạn văn chức năng trong bài. Bên cạnh đó, tính logic còn thể hiện năng lực trí tuệ của người viết, giúp truyền đạt quan điểm rõ nét hơn tới từng đối tượng trong bài, nhờ đó, bài viết sẽ phản ánh được quan điểm toàn vẹn hơn mà vẫn mang tính thuyết phục cao.
  • Thứ 3, tính xác thực nhằm cung cấp dẫn chứng cho bài viết. Bài viết cần phải có tính xác thực thì mới thu hút được sự quan tâm và sự đồng thuận từ phía các giám khảo chấm thi. Một khi đã đạt được sự đồng thuận, bài viết sẽ đạt được nhiều thuận lợi tích cực của các giám khảo.

ACT

  • Thí sinh được cho 1 chủ đề hoặc một vấn đề và bạn phải đưa ra quan điểm của mình và sử dụng những dẫn chứng, lập luận để hỗ trợ quan điểm đó.
  • Bạn chỉ cần tập trung vào vấn đề và bày tỏ được quan điểm, ý kiến của mình thật chặt chẽ với nhiều ví dụ cụ thể. Học nữa, người chấm thi không hoàn toàn để ý tới ngữ pháp và cách ngắt câu. Với bài thi viết của ACT, sự rõ ràng trong từng câu chữ là điều quan trọng nhất.
  • Khá áp lực về mặt thời gian. Chỉ trong 30 phút, thí sinh cần đọc và hiểu rõ chủ đề mình được giao, lên kết hoạch cụ thể các ý, viết nháp và sửa bài viết của mình.

Phần thi khoa học (Science) của ACT

  • Tên là phần thi khoa học nhưng thực chất, ACT lại không hỏi về kiến thức khoa học của thí sinh mà thay vào đó là đòi hỏi ở thí sinh cần có kĩ năng xử lí dữ liệu được cho sẵn (bảng, biểu đồ, thống kê) từ đó tư duy trả lời các câu hỏi trắc nghiệm.
  • Các môn học thường xuất hiện trong phần Science của ACT: Vật lí, hóa học, sinh học, địa lí, thiên văn học.
  • Một số môn như vật lí hay hóa học đôi lúc sẽ cần thí sinh thuộc số ít những công thức quen thuộc, cơ bản, mà đa số là thuộc chương trình lớp 9, lớp 10 tại Việt Nam.
  • Nhiều thuật ngữ khoa học, nhưng những thuật ngữ này đều có thể học thuộc và làm quen rất nhanh thông qua luyện tập.
  • Áp lực thời gian khá lớn, cũng giống như phần đọc, là 40 câu hỏi trong vòng 35 phút, trung bình mỗi câu là 52 giây.
  • Có ba dạng câu hỏi khác nhau từ dễ tới khó: Số liệu (Data representation), các câu hỏi ở dạng tổng quan, khái quát các thông tin được cho (Research summary) và các câu hỏi tư duy trái chiều, tư duy logic (Conflicting viewpoint)

3. Kết luận: Chọn kì thi nào?

 

Câu hỏi này tùy thuộc vào bạn - thí sinh đăng kí dự thi. Hãy tìm hiểu thật kĩ về hai kì thi, nếu có điều kiện, hãy làm thử đề Full Test của cả SAT và ACT để có cái nhìn bao quát về từng kì thi một, và cảm nhận được rằng mình hợp với cái gì hơn.
 

ACT tuy dễ hơn về mặt từ vựng và toán, nhưng lại gây cản trở cho học sinh bởi áp lực thời gian quá dồn dập, cũng như là phần Science quá mới lạ, khó để thích nghi và ôn luyện thành thạo. Còn SAT thì lại phù hợp với những ai không giỏi trong việc xử lí áp lực thời gian, và có hứng thú với tư duy phản biện lẫn tư duy logic, và có trách nhiệm với tương lai của chính mình khi bước chân vào đại học tại Mỹ.