Computer Science (Khoa học máy tính) đang là một trong những ngành “hot” hiện nay đối với cộng đồng du học sinh tại Hoa Kì bởi mức thu nhập khá hứa hẹn sau khi tốt nghiệp. Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho các bạn cái nhìn tổng quát và đúng đắn về lĩnh vực này. 

Là một trong những chuyên ngành đang “nổi cồm cộm”, chắc hẳn không ít các bạn học sinh đang đứng trước những quyết định quan trọng của cuộc đời sẽ tự hỏi: “Ngành học này cụ thể là về những gì?”, “Liệu mình có phù hợp với Computer Science (CS) hay không?”, “Cơ hội nghề nghiệp trong tương lai như thế nào?”. HOLA Academy mong rằng bài viết này sẽ là một nền tảng vững chắc giúp các bạn độc giả có những cái nhìn đúng đắn và phù hợp nhất với bản thân.

Photo by Kodchakorn Thm

Photo by Kodchakorn Thm 

Tổng quan về Computer Science

Computer Science (CS) hay Khoa học máy tính là chuyên ngành đi sâu nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến máy tính, điện toán (Computing), giải pháp cho các vấn đề công nghệ (Problem Solving), thiết kế hệ thống máy tính (Computer System Design) và giao diện người dùng (User Interface) dưới góc độ khoa học. CS không chỉ dạy về một loại hình ngôn ngữ riêng biệt, mà còn về những nguyên tắc tạo nên thứ ngôn ngữ đó, những cấu trúc để lưu trữ dữ liệu, và cách để một chương trình giải quyết vấn đề. 


Những chuyên khoa thuộc Computer Science:

  • Business Programming (Lập trình Kinh doanh)
  • Scientific Programming (Lập trình Khoa học)
  • Database Programming (Lập trình Cơ sở dữ liệu)
  • Systems Programming (Lập trình Hệ thống)
  • Programming for the Internet (Lập trình cho Internet)
  • Security and Recovery (Bảo mật và Khôi phục)

Những học phần liên kết phổ biến:

  • Introduction to Economics (Nhập môn Kinh tế)
  • Statistics for Business and Social sciences (Thống kê Kinh doanh và Khoa học xã hội)
  • Programming in a language (Ngôn ngữ lập trình) như C, Pascal, COBOL)
  • Software Engineering (Kỹ thuật phần mềm)
  • Artificial Intelligence (Trí tuệ nhân tạo)

Các kĩ năng liên quan:

  • Lập trình (Programming)
  • Thiết kế công nghệ (Technology Design)
  • Xử lý sự cố (Trouble-Shooting)
  • Nâng cấp hệ thống (Systems Evaluation)
  • Phân tích vận hành (Operations Analysis)
  • Quản lý tài chính (Management of Financial Resources)
  • Phân tích hệ thống (Systems Analysis)
  • Lựa chọn thiết bị (Equipment Selection)

Môi trường làm việc: Văn phòng.

Nhóm tính cách phù hợp nhất của ngành: Nghiên cứu - Nghiệp vụ - Thực tế.

“Cử nhân khoa học máy tính” và “Kỹ sư phần mềm”: Ngộ nhận chung đi kèm hụt hẫng

Không ít người lầm tưởng rằng chỉ cần là Cử nhân Khoa học máy tính thì cũng có thể làm Kỹ sư phần mềm, tuy nhiên, thực tế chỉ có 40% người làm phần mềm là có bằng cử nhân CS, và không có ai có bằng kỹ sư phần mềm cả. Tại sao vậy?

Photo by Steve Simpson

Đầu tiên, ta cần phân biệt công việc đặc thù của hai ngành nghề này. Nhà khoa học (máy tính) cần tập trung vào nghiên cứu, bao gồm cập nhật thông tin về những nghiên cứu mới nhất, đồng thời kiểm chứng những giả thuyết và chân lý. Trong khi đó, kỹ sư sẽ là người vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề thực tế, làm quen với những kỹ thuật mới đã được chứng minh là đúng đắn và hiệu quả. Nhà khoa học có thể đào sâu vào một chuyên ngành hẹp, còn kỹ sư cần hiểu biết rộng về tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến sản phẩm đang thiết kế. Nhà khoa học không cần chuẩn hoá vì họ chủ yếu làm việc với nhau, còn kỹ sư lại cần vì họ làm việc với cả những người bình thường, không cùng chuyên môn với họ. Nhìn chung, kỹ sư phần mềm là một nấc thang khác cao hơn so với cử nhân khoa học máy tính: họ là người có cái nhìn tổng quát tốt về mọi thứ, vừa có kiến thức vững về Computer Science như người làm nghiên cứu, vừa có khả năng lập trình cực tốt.

Các trường cấp bằng cử nhân khoa học nghĩ rằng khi ra trường các sinh viên có thể tham gia các dự án phần mềm mà trong đó họ phải giải quyết vấn đề của thế giới thực, không còn là lý thuyết trong sách vở. Chính lầm tưởng này đã đặt các cử nhân vào tình huống vô cùng khó khăn. Những nhà khoa học trẻ, chưa qua đào tạo về kỹ thuật giờ đây phải làm việc như một kỹ sư.

Huy Nguyễn, đồng sáng lập cộng đồng kỹ sư phần mềm Grokking Vietnam cho rằng Việt Nam có nhiều người ở trình độ Application Developer (Chuyên viên phát triển ứng dụng), nhưng rất ít bạn ở mức độ Software Engineer (Kỹ sư phần mềm). Do vậy, nhìn ngoài vào thì ai cũng nói ở Việt Nam có nhiều Lập trình viên, nhưng đến khi vào rồi phỏng vấn rất nhiều nhưng rất khó kiếm được bạn vừa ý. Kỹ sư phần mềm là những người mà các công ty như Google, Facebook, Twitter luôn muốn tuyển vào. Nhưng đừng quên, để trở thành Kỹ sư phần mềm, bạn phải là Computer Scientist trước.

Cơ hội nghề nghiệp của ngành khoa học máy tính

Photo by JeanPierre Le Roux
 

Có thể nói, cơ hội việc làm của cử nhân CS là vô cùng rộng mở. Theo rasmussen.edu, đây là top 6 công việc người tốt nghiệp chuyên ngành CS có thể làm kèm theo dự kiến tăng trưởng và thu nhập trung bình:

1. Nhân viên phát triển ứng dụng phần mềm (Software application developer)

Công việc chính:

  • Thiết kế hoặc tùy chỉnh phần mềm ứng dụng máy tính.
  • Sửa đổi phần mềm hiện có để tối ưu hóa hiệu quả hoạt động hoặc sửa lỗi.
  • Đánh giá nhu cầu phần mềm và nhu cầu của người dùng để xác định tính khả thi của phần mềm.

Dự kiến tăng trưởng (2016–2026): 30%

Mức lương trung bình hàng năm (2016): $100.080

2. Chuyên gia phân tích hệ thống máy tính (Computer systems analyst)

Công việc chính:

  • Phân tích các vấn đề xử lý dữ liệu nhằm cải thiện hệ thống máy tính.
  • Phát triển và thử nghiệm các phương pháp thiết kế hệ thống.
  • Tăng cường khả năng tương thích của hệ thống để thông tin có thể được chia sẻ dễ dàng.

Dự báo tăng trưởng (2016–2026): 9%

Mức lương trung bình hàng năm (2016): $87.220

3. Chuyên viên phát triển hệ thống phần mềm (Software systems developer)

Công việc chính:

  • Thiết kế, phát triển và kiểm nghiệm phần mềm cho các ngành công nghiệp khác nhau.
  • Thay đổi phần mềm hiện có để khắc phục lỗi hoặc cải thiện hiệu suất.
  • Phân tích dữ liệu để xác định, đề xuất và lập kế hoạch cài đặt hoặc sửa đổi hệ thống mới.

Dự kiến tăng trưởng (2016–2026): 11%

Mức lương trung bình hàng năm (2016): $106.860

4. Chuyên viên lập trình Web (Web developer)

Công việc chính:

  • Viết, thiết kế hoặc chỉnh sửa nội dung trang web hoặc điều hướng người khác sản xuất nội dung.
  • Xác định và sửa chữa các lỗi ẩn bằng cách kiểm tra hoặc qua phản hồi của người dùng.
  • Sao lưu các tệp trang web để khôi phục cấp tốc trong trường hợp có sự cố.

Dự kiến tăng trưởng (2016–2026): 13%

Mức lương trung bình hàng năm (2016): $66.130

5. Quản trị hệ thống mạng (Network systems administrator)

Công việc chính:

  • Cài đặt và hỗ trợ hệ thống mạng của tổ chức.
  • Kiểm tra các chức năng của trang web để đảm bảo hiệu suất mà không bị gián đoạn.
  • Thực hiện sao lưu và khôi phục dữ liệu.

Dự báo tăng trưởng (2016–2026): 6%

Mức lương trung bình hàng năm (2016): $79.700

6. Quản trị cơ sở dữ liệu (Database administrator)

Công việc chính:

  • Kiểm tra và quản lý cơ sở dữ liệu máy tính
  • Kết hợp các thay đổi và sửa lỗi cho cơ sở dữ liệu máy tính
  • Áp dụng các biện pháp an ninh để bảo vệ thông tin

Dự kiến tăng trưởng (2016–2026): 11%

Mức lương trung bình hàng năm (2016): $84.9502

Ngoài ra, Computer Science còn mang đến rất nhiều cơ hội việc làm khác như Quản lý hệ thống máy tính và thông tin, Kỹ sư phần mềm máy tính - Ứng dụng, Kỹ sư phần mềm máy tính - Phần mềm hệ thống, v..v…

Con gái không nên học Computer Science?

Không ít các bậc phụ huynh cho rằng lập trình không phải ngành dành cho phái nữ, và nữ sinh không nên học Khoa học máy tính, đồng thời cũng lo sợ rằng con mình sẽ không theo được chương trình học. Tuy nhiên, suy luận trên là không có cơ sở.

 

Photo by Kodchakorn Thm 

 

Lịch sử đã chứng minh phụ nữ có vai trò vô cùng to lớn trong sự phát triển của lĩnh vực công nghệ.

Đầu tiên phải kể đến Ada Lovelace, một nhà khoa học nữ của Anh quốc, là lập trình viên đầu tiên trên thế giới. Tuy là con gái của một thi sỹ, bà lại có hứng thú với máy móc và được Charles Babbage (một nhà toán học người Anh) ưu ái gọi bằng cái tên “người phụ nữ của những con số”. Người phụ nữ này cũng tự gọi lối suy nghĩ của mình là “khoa học đầy chất thơ” và là một trong những người đầu tiên suy đoán về trí tuệ nhân tạo (AI).

Grace Murray Hopper (1906 – 1992) thường được gọi là “Bà mẹ của những người lập trình”. Vào một hôm máy tính bỗng nhiên ngừng hoạt động, khi mọi người đang loay hoay không biết phải giải quyết ra sao thì bà đã tìm thấy một con bọ bị mắc kẹt vào rơ–le điện tử của mạch máy tính - nguyên nhân khiến cho máy không chạy. Từ đó trở đi, lỗi máy tính được gọi là “Bug” (Bọ) và sửa lỗi được gọi là “Debug” (Bắt bọ).

Một nhóm phụ nữ tình nguyện trong Thế chiến II đã giải mã được các thông điệp quân sự của người Đức. Họ thậm chí còn phát triển các thuật toán đặc biệt như “Bombes” và “Robinsons” để trợ giúp cho việc phá mã.

Sẽ thật thiếu sót nếu không nhắc đến minh tinh Hedy Lamarr, một trong những huyền thoại màn bạc của Hollywood thập niên 40. Bà không chỉ được tôn vinh là “người phụ nữ đẹp nhất thế giới” mà còn là nhà toán học, hoá học, người sáng chế những phát minh có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến ngành truyền thông không dây ngày nay. Hedy Lamarr tên thật là Hedwig Eva Maria Kiesler, sinh ngày 9/11/1914 tại Vienna, Áo. Hedy Lamarr có mẹ là nghệ sỹ dương cầm người Budapest gốc Do Thái, và cha là chủ ngân hàng người Do Thái. Năm 1993, bà đã gây chấn động thế giới bằng một cảnh khoả thân đầy táo bạo trong phim “Estase”. Dù sau đó bộ phim bị Giáo hoàng lên án và cấm chiếu tại Mỹ, tiếng tăm của bà đã được các nhà sản xuất Hollywood chú ý. Được hãng MGM mời ký hợp đồng, bà chính thức tiến đến kinh đô điện ảnh danh giá và đổi tên thành Hedy Lamarr.

Sau thành công từ bộ phim “Estase”, bà kết hôn với một nhà buôn vũ khí và học về chúng từ người chồng của mình. Tuy nhiên, ông ta giam giữ vợ như một tù nhân thực sự. Bà đã phải cho người hầu uống thuốc ngủ rồi trèo qua cửa sổ tầng hai để trốn thoát, chạy trốn sang châu Âu, rồi qua Mỹ lập nghiệp. Bên cạnh nghiệp diễn, bà còn có sở thích sáng chế khoa học. Năm 1942, Lamarr và nhà soạn nhạc George Antheil được cấp bằng sáng chế cho “Hệ thống bảo mật thông tin”, dùng để chống nhiễu sóng cho các loại ngư lôi trong Thế chiến II được điều khiển bằng sóng vô tuyến. Điểm mấu chốt trong phát minh của Hedy là sự liên tục biến đổi tần số dựa trên cấu tạo của 88 phím dương cầm. Nói cách khác, tín hiệu sóng vô tuyến luôn thay đổi tần số làm cho chúng không thể bị chặn lại. Tuy nhiên, phát minh này chưa được ứng dụng trong dân sự ngay cho đến tận 20 năm sau. Hedy đã đi trước thời đại 20 năm. Nếu không có bà, Wifi, GPS, Bluetooth chưa chắc đã phổ biến như hiện nay.


Và còn rất nhiều các câu chuyện không tên khác về thành tựu của phái đẹp trong ngành công nghệ thông tin.


Từ trái sang phải: Ada Lovelace - Grace Murray Hopper - Hedy Lamarr

“Tôi tin phụ nữ có thể học tốt và có khả năng để chứng minh rằng không có sự khác biệt nào giữa đàn ông và phụ nữ trong việc theo đuổi tri thức kỹ thuật/công nghệ” - Giáo Sư John Vu, Viện trưởng Viện Công nghệ Sinh học Đại học Carnegie Mellon, Hoa Kỳ khẳng định.

Những tiêu điểm “Hot” 2018 trong giới lập trình viên

Theo Stack Overflow, cuộc khảo sát mới nhất trong năm 2018 đã chỉ ra những xu thế nổi bật của giới lập trình viên:


1. DevOps (Sự kết hợp của Development và Operation) và Máy học (Machine Learning) đang là xu hướng trong ngành công nghiệp phần mềm hiện nay. Các ngôn ngữ và frameworks liên quan đến hai loại này đang gia tăng, và các Lập trình viên (Developer / Dev) làm việc trong các lĩnh vực này hiện có mức thu nhập cao nhất.
 
2. Chỉ có một phần nhỏ các Dev nói rằng họ vẫn sẽ viết mã độc, và không có nghĩa vụ phải xem xét tác động của các mã ấy. Phần còn lại nghĩ rằng vấn đề đạo đức này vẫn còn những mặt tối, nhưng họ không biết phải báo cáo vấn đề này thế nào, hay ai sẽ chịu trách nhiệm cuối cùng xử lý vấn đề đó.
 
3. Nhìn chung, các Developer hoàn toàn lạc quan về những khả năng mà trí thông minh nhân tạo đem lại, nhưng không đồng ý về những mối nguy hiểm tiềm ẩn của AI.
 
4. Python tiếp tục “lên rank” trong bảng xếp hạng ngôn ngữ lập trình, vượt qua cả C# trong năm nay, bỏ qua PHP trong năm ngoái.
 
5. Khi đánh giá một công việc tiềm năng, các Dev có các ưu tiên khác nhau. Phụ nữ nói rằng ưu tiên cao nhất của họ là văn hóa công ty và cơ hội phát triển nghề nghiệp, trong khi đàn ông ưu tiên lương thưởng và cơ hội làm việc với những công nghệ đặc thù.

Học khoa học máy tính nên đọc sách gì?

Blog về Khoa học máy tính - Procul đã chia sẻ những cuốn sách một nhà khoa học máy tính tương lai nên đọc qua. Tôi sẽ điểm qua những mảng kiến thức cơ bản nhất và các đầu sách tương ứng.

Photo by Steve Simpson

 

1. Phân tích thiết kế thuật toán cơ bản

  • Introduction to Algorithms (Thomas H. Cormen, Charles E. Leiserson, Ronald Rivest, and Clifford Stein)
  • Algorithm Design (Jon Kleinberg, Éva Tardos)
  • Algorithms (S. Dasgupta, C.H. Papadimitriou, and U.V. Vazirani)
  • Computers and Intractability: A Guide to the Theory of NP-Completeness (Michael R. Garey and David S. Johnson)
  • Probability and Computing: Randomized Algorithms and Probabilistic Analysis (Michael Mitzenmacher and Eli Upfal)

2. Phân tích thiết kế thuật toán nâng cao

  • The Art of Computer Programming Volumes 1, 2, 3 (Donald Knuth)
  • Approximation Algorithms (Vijay Vazirani)
  • Randomized Algorithms (Rajeev Motwani and Prabhakar Raghavan)
  • Linear Programming (Vašek Chvátal)
  • Approximation Algorithms for NP-Hard Problems (Dorit Hochbaum)
  • Theory of Linear and Integer Programming (Alexander Schrijver)
  • Combinatorial Optimization: Algorithms and Complexity (Christos H. Papadimitriou and Kenneth Steiglitz)
  • Counting, Sampling and Integrating: Algorithms and Complexity (Mark Jerrum)
  • Network Flows: Theory, Algorithms, and Applications (Ravindra K. Ahuja, Thomas L. Magnanti, and James B. Orlin)
  • Algorithmic Game Theory (Noam Nisan, Tim Roughgarden, Eva Tardos, and Vijay V. Vazirani (editors)
  • Computational Geometry: Algorithms and Applications, Second Edition (Mark de Berg, M. van Krefeld, M. Overmars, and O. Schwarzkopf)
3. Combinatorics (bao gồm lý thuyết đồ thị và toán rời rạc)

3.1. Toán rời rạc phổ thông

  • A Course in Combinatorics (J. H. van Lint and R. M. Wilson)
  • Concrete Mathematics: A Foundation for Computer Science (Ronald L. Graham, Donald E. Knuth, Oren Patashnik)
  • Combinatorial Problems and Exercises (Laszlo Lovasz)
  • Proofs from THE BOOK (Martin Aigner, Günter M. Ziegler, and K.H. Hofmann)

3.2. Lý thuyết đồ thị

  • Introduction to Graph Theory (Douglas West)
  • Graph Coloring Problems (Tommy R. Jensen and Bjarne Toft)
  • Matching Theory (L. Lovász and M.D. Plummer)
  • Algebraic Graph Theory (Norman Biggs)
  • Spectra of Graphs: Theory and Applications, Academic Press (Dragos M. Cvetkovic, Michael Doob, Horst Sachs)
  • Spectral Graph Theory (Fan Chung)

3.3. Phương pháp xác suất

  • The Probabilistic Method (Noga Alon and Joel H. Spencer)
  • Random Graphs (Béla Bollobás)

4. Xử lý ngôn ngữ tự nhiên

  • Foundation of Statistical NLP (Manning & Schutze)
  • Speech & Language Processing: An Introduction to Natural Language Processing, Computational Linguistics, and Speech Recognition (Jurasky & Martin)

Ngoài ra, những ai sẽ/đang theo đuổi ngành Computer Science có thể tham khảo thêm khoá học CS50 Harvard's Introductory Computer Science Course 2018 kéo dài 12 tuần của đại học Harvard. Khoá hứa hẹn cung cấp cho người học những kiến thức về CS từ cơ bản đến nâng cao, kết hợp các bài tập với độ khó vừa đủ để người học tiến bộ nhanh nhất.

Chia sẻ kiến thức: Thói quen của Computer Scientist tài năng

Viết blog hay tham gia thảo luận tại các diễn đàn công nghệ là những cách rất hay để chia sẻ kiến thức. Tại sao lại cần làm vậy chứ? Đừng nghĩ rằng một nhà khoa học máy tính chỉ cần loanh quanh với những dòng code và thuật toán khô khan là ổn, vì việc viết và chia sẻ sẽ đem lại những lợi ích rất thiết yếu đấy.

Photo by Steve Simpson

Duy trì niềm đam mê

Dù bất cứ nghề nào, sẽ có lúc ngọn lửa đam mê của mỗi người chập chờn, lụi tàn. Vậy cách để giữ lửa là gì? Viết. Viết để đối thoại với bản thân. Viết để giải toả bớt căng thẳng, phiền muộn trong cuộc sống, trong công việc. Viết để chia sẻ những khoảnh khắc vui vẻ của công việc này, ngành học này. Để lúc nào có buồn chán, ta lại mở ra những bài blog cũ, đọc lại những niềm vui đã qua mà tiếp thêm động lực, tinh thần. Để khi nhìn lại, thấy bao nhiêu thăng trầm và vui buồn về cái ngành học này, ta lại thấy mình trưởng thành hơn.

Nâng cao trình độ

Khác với những bài viết thể hiện cảm nhận, quan điểm của bản thân về thế giới, thì những bài blog kỹ thuật lại ngược lại - trả lời cho những câu hỏi của thế giới hướng đến mình. Những gì cần viết là những điều mọi người muốn biết, muốn được giải đáp, chất vấn. Hãy tự hỏi mình bằng những câu hỏi: “Tại sao lại như thế?”, “Điều này có ý nghĩa gì?”, “Tại sao tôi cần biết về chủ đề này?”,... Để tạo ra một bài viết hay nhận xét/ góp ý chất lượng chắc chắn là sẽ cần đầu tư thời gian và chất xám. Nhưng chắc chắn là nó rất xứng đáng. Vì để tạo được một bài đăng như vậy, người viết sẽ cần tổng hợp, sắp xếp, hệ thống lại kiến thức kiến thức của mình. Đây là một cách hiệu quả để ôn tập lại những gì đã học. Hơn nữa, viết công khai như vậy đồng nghĩa với việc sẵn sàng nhận “gạch đá” cho những gì mình biết, từ đó rút kinh nghiệm và học hỏi thêm nhiều điều mới, gom góp vốn tri thức nhằm nâng cao trình độ. Vậy bạn đã sẵn sàng nhận “gạch đá” chưa?

Chia sẻ và quảng bá bản thân

Nhiều người hay bảo: “Biết mà không nói là một cái tội”. So với các bạn Tây, lập trình viên Việt Nam có vẻ ít viết các bài blog hay bình luận chia sẻ kiến thức. Có lẽ là vì lười, vì văn hoá Việt Nam chưa quá khuyến khích việc trình bày quan điểm cá nhân? Viết bình luận sẽ được nghe phản biện, đóng góp từ những người làm cùng lĩnh vực, có cùng trình độ hoặc hơn mình. Là cơ hội để những đồng môn ngành Công nghệ thông tin học tập lẫn nhau. Như tôi có đề cập ở trên, Grokking Việt Nam chính là một ví dụ về cộng đồng học tập lành mạnh dành cho những lập trình viên tương lai. Thêm nữa, một bài viết blog công khai là một cách PR bản thân cực kỳ hiệu quả. Bạn viết nhiều, khoe nhiều thì mọi người sẽ nhắc đến nhiều. Có người sẽ chờ bạn đăng bài để góp ý, cũng có người chờ để học hỏi từ bạn, đồng thời chia sẻ những thông tin bổ ích khác. Công khai như vậy, bạn cũng sẽ có cơ hội được giao lưu với những kỳ tài công nghệ cao hơn, những người nổi tiếng, hay nhà tuyển dụng của một tập đoàn lớn như Google, Facebook chẳng hạn.

Một bài blog kỹ thuật tốt phải có cấu trúc rõ ràng, kèm hình minh hoạ, đầy đủ dấu câu, in nghiêng in đậm những chi tiết quan trọng, và tránh văn chương hoa mỹ. Người đọc của bạn sẽ là các Developer, và Developer thường chỉ thích nội dung đơn giản, ngắn gọn, đúng trọng tâm mà thôi. Sau khi viết xong bạn có thể đăng lên Github Page, Blogger, WordPress, Kipalog (Keep A Log), Medium, hoặc đầu tư hơn bằng cách tự mua tên miền, host, rồi cài các CMS (hệ thống quản lý nội dung) để đăng bài.

Hy vọng bài viết vừa rồi đã giúp bạn hiểu hơn về ngành học Computer Science cũng như cơ hội nghề nghiệp, các tip để thành công hơn với ngành này. Ngoài ra, bạn có thể tham khảo các bài viết khác trong series bài Majors của Hola Academy để biết thêm về các ngành học tiềm năng đang hiện hành nhé.

ALicy

Nguồn tham khảo

http://www.rasmussen.edu/degrees/technology/blog/what-can-you-do-with-computer-science-degree/

http://www.procul.org/blog/2007/10/01/sach-khmt/  

https://kipalog.com/posts/Cu-nhan-khoa-hoc-may-tinh-khong-la-ki-su-phan-mem?utm_campaign=Revue%20newsletter&utm_medium=Newsletter&utm_source=Grokking%20Newsletter