Khi chuẩn bị viết những dòng này, tôi muốn nói là tôi đã từng dựa vào những phương pháp học điển hình. Thời học sinh tôi rất hay highlight những ý chính trong bài đọc của mình. Bên cạnh đó, tôi cũng ghi chú, và trong số đó có rất nhiều câu được trích nguyên văn nhờ lệnh sao chép của máy tính. Sau đó tôi đọc lại các ghi chú và phần highlight. Bạn nghe có thấy quen không? Học sinh ở mọi nơi đều làm cách đó, nhưng thực ra đó chẳng phải là phương pháp tốt để học một điều mới.

Các nhà khoa học đã dành ra hàng thập kỷ để nghiên cứu về cách học. Số lượng tài liệu nghiên cứu quá đồ sộ. May mắn thay, tạp chí Psychological Science trên Public Interest đã đăng tải một bài viết gồm những phương pháp học toàn diện nhất. Đó là 47 trang viết về những kinh nghiệm quý giá từ những người học ở mọi độ tuổi trên mọi lĩnh vực.

Các tác giả đã nghiên cứu 10 phương pháp học tập khác nhau, bao gồm highlight, đọc lại nhiều lần, làm bài kiểm tra, tóm tắt, tự giảng bài cho mình hoặc người khác và cả kỹ thuật mnemonic. Họ cũng đã thu thập được kết quả của gần 400 nghiên cứu trước đây. Sau đó, họ đánh giá tính hữu dụng của các phương pháp theo các mức: Cao, thấp, trung bình.

Chủ biên John Dunlosky, giáo sư tâm lý tại Kent State University giải thích rằng những phương pháp không thuộc top không hẳn là không tốt mà là do thiếu bằng chứng về tính hiệu quả hoặc chỉ chứng minh được hiệu quả đối với một số lĩnh vực hoặc tập học sinh nhất định. “Chúng tôi muốn tìm được những phương pháp có tác dụng tích cực với đại đa số các học sinh, nên thang đo có hơi khắt khe”.

Thực tế, chỉ có hai phương pháp được lọt vào top: Làm bài kiểm tra luyện tập (Self-testing) và “luyện tập cách đoạn” (Distributed Practice), nghĩa là lên lịch học trong một khoảng thời gian, trái ngược với học “nhồi nhét”.

Bài kiểm tra luyện tập có thể có nhiều dạng: Flashcards, trả lời câu hỏi ở cuối mỗi bài, trả lời trắc nghiệm online. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng đây là phương pháp hiệu quả với mọi đối tượng học sinh từ lớp mầm đến bậc tiến sĩ. Phương pháp luyện tập đặc biệt hiệu quả khi áp dụng cách “gợi nhớ tự do” (free recall), trái ngược với các bài tập gợi nhắc như câu hỏi dạng đúng - sai hay trắc nghiệm ABCD. Không chỉ phù hợp với mọi đối tượng, phương pháp này còn hiệu quả với mọi dạng bài kiểm tra.

Tự kiểm tra bản thân là cách học hiệu quả vì bạn sẽ phải cố gắng lấy được những kiến thức từ trong trí nhớ của mình ra, điều mà chúng ta không làm khi chỉ đọc lướt lại những mẩu ghi chú hoặc vở ghi.

“Chúng ta đều biết việc nhớ lại những gì đã học là điều rất quan trọng đối với trải nghiệm học tập”, nhà tâm lý học nhận thức Thomas Toppino, trưởng khoa Psychological and Brain Sciences tại Villanova University chia sẻ. “Chúng tôi có hàng tá những bằng chứng chứng minh về tính hiệu quả của việc nhớ lại, hơn rất nhiều so với việc học lại”.

Đối với luyện tập cách đoạn và học nhồi, Dunlosky và các đồng chủ biên viết rằng: “Học nhồi thì thà không học còn hơn”, nếu bạn muốn dành riêng 4-5 tiếng để ôn thi giữa kỳ, thì việc chia lịch học ra nhiều ngày hay nhiều tuần sẽ hiệu quả hơn nhiều. “Bạn sẽ học được nhiều hơn nếu dãn thời gian học ra”.

Mặc dù chưa thể giải thích hết được lý do, nhưng việc này có liên hệ với sự hợp nhất trí nhớ. Khi chúng ta xem lại thông tin theo thời gian, bộ nhớ trở nên ổn định và ít bị gián đoạn hơn. Các nhà thần kinh học tin rằng điều này phần nào phản ánh sự chuyển giao trí nhớ từ vùng hồi hải mã đến các vùng trong vỏ não. Nhớ lại kiến thức trong những thời điểm khác nhau vào những ngày khác nhau khiến chúng liên kết với nhiều tín hiệu hơn. Vậy nên, nếu bạn đang học về chu trình Krebs trong thư viện với ánh nắng rọi qua cửa sổ, rồi vài hôm sau lại học với bạn cùng lớp, nội dung về bài học đã được liên kết với các ký ức và bạn có thể lưu giữ lại nó dễ dàng.

Kết hợp tự kiểm tra và luyện tập cách đoạn đặc biệt hữu dụng. “Không bao giờ được tự kiểm tra sau khi vừa học xong”, Toppino nói, “Bạn sẽ tự ảo tưởng về lượng kiến thức mình học được nếu kiểm tra ngay”.

Đồng thời, sẽ tốt hơn nếu bạn chợp mắt một chút giữa các buổi học. Sự hợp nhất trí nhớ xảy ra khi ngủ. Một nghiên cứu năm 2016 của Toppino và các đồng nghiệp tại Pháp đã cho thấy nếu bạn xen kẽ giấc ngủ vào giữa hai phiên học, bạn sẽ nhớ bài dễ hơn và lâu hơn so với việc học liền tù tì không nghỉ. Hơn nữa, khi bạn xem lại bài sau khi đã tỉnh, bạn sẽ ghi nhớ thông tin tốt hơn. Trong báo cáo của Toppino có nói đến việc học từ vựng Swahili, và những học sinh ngủ nhiều hơn thì học được nhiều từ vựng hơn sau khi thức giấc, nhớ chúng tốt hơn trong một tuần sau.

Mặc dù những phương pháp này đã phổ biến với những nhà nghiên cứu trong nhiều năm trời, các học sinh và giáo viên lại chưa tiếp cận được chúng. Một báo cáo được thực hiện vào năm ngoái bởi National Council on Teacher Quality đã chỉ ra, thật đáng kinh ngạc, 85% sách dạy kỹ năng sư phạm về cách học của học sinh chỉ có chưa đầy 1 trang viết về những phương pháp học đã được thực nghiệm, còn 59% trong 48 quyển sách về tâm lý học trong giáo dục được khảo sát không hề đề cập đến một câu.

Những học sinh thường tiếp cận thông tin sai lệch hoặc đơn giản chỉ là không biết nên học sao cho hiệu quả. Để đạt được hiệu quả từ việc luyện tập cách đoạn và ngủ, bạn cần có một kế hoạch cho việc học. Với bài tự kiểm tra, Toppino thở dài: “Nhiều người nghĩ kiểm tra là để đánh giá”, và họ bỏ quên mất tác dụng xác định lỗ hổng và điểm yếu cần cố gắng trong kiến thức của phương pháp đó.

Những phương pháp học khác ngoài top 2 trong nghiên cứu của Dunlosky cũng hữu ích. Ví dụ, có khá nhiều bằng chứng ủng hộ việc “tự giải thích”, là khi bạn tự hỏi bản thân tại sao điều bạn đã học lại đúng. Highlight cũng là cách tốt, nhưng “sai lầm là nhiều học sinh chỉ highlight rồi đọc lại đúng những chỗ đó, liên tục”, Dunlosky cho biết, “Các bạn cần làm những hoạt động sôi nổi hơn”. Thì ra Dunlosky là fan của phương pháp highlight: “Tôi có một cây bút highlight yêu thích, và tôi sẽ không bao giờ bỏ nó đi”.

 
Biên tập: ALicy

Nguồn: KQED News (https://www.kqed.org/mindshift/49750/a-better-way-to-study-through-self-testing-and-distributed-practice)