Trí nhớ của mọi người đều như nhau, từ những học sinh bình thường đến những nhà vô địch ghi nhớ, điều khác biệt chỉ là cách sử dụng bộ nhớ của mỗi người, và đó cũng là nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch về khả năng ghi nhớ trong mỗi chúng ta.

Ai cũng muốn ghi nhớ được thật nhiều. Chúng ta muốn nhớ tất cả những gì đã học. Ta không muốn quên những lưu ý, cái tên, hay khuôn mặt của người bạn mới quen. Dù đang học cấp 3, đại học, hay đi làm, tôi dám chắc đôi khi các bạn vẫn tự hỏi sao khả năng ghi nhớ của mình lại tệ như vậy, hay tự trách bản thân sao mình không có trí nhớ tốt như những người khác. Nhưng trong thực tế, bộ nhớ của những nhà vô địch các cuộc thi trí nhớ cũng chẳng hơn gì chúng ta đâu.

Photo by Elizabeth Sanchez

Trí nhớ hiện đang bị hao mòn

Đã bao giờ bạn tự hỏi, nếu không có giấy bút hay các công cụ điện tử thì chúng ta sẽ nhớ được bao nhiêu phần trăm lượng công việc cần làm? Hãy thử hình dung viễn cảnh  này:

Buổi sáng thức dậy, trời có vẻ sắp mưa nên trước khi đi bạn cần mang ô và chuẩn bị bữa trưa. Trong lúc thay đồ thì đứa bạn cùng lớp nhắn tin nhắc bạn in bài trước khi đến lớp. Được rồi, vậy là cần mang dư thêm một ít tiền nữa. Trời mưa, may sao bạn vẫn có ô, nhưng tiếc là vì đường tắc nên bạn đến muộn một chút, và lỡ mất một phần bài giảng. Bạn cần nhớ mang theo ô để dưới ngăn bàn cùng hộp cơm khi về, và hỏi đứa bạn về phần bài đã bỏ lỡ nữa. Trên đường về bạn sẽ phải ghé chợ mua thức ăn cho bữa tối. Cuối cùng giờ học cũng trôi qua, hai chương sách đã hoàn thành, cô giáo nhắc deadline là vào thứ 3 tuần sau. Tối nay bạn phải sắp xếp lại lịch để chạy deadline rồi. À bạn cũng phải nhắc mấy thành viên trong nhóm đưa tiền photo hôm nay nữa.

Vậy từ giờ đến tối bạn phải làm những việc gì? Hôm nay bạn đã học được những gì? Chúng ta sẽ ghi nhớ thế nào tất cả số bài giảng và công việc kia khi không được ghi chép vào sổ, giấy nhớ, hay điện thoại?

Khi xưa, việc nhớ được một lượng lớn thông tin là vô cùng quan trọng, thậm chí là vấn đề sống còn, và những người lưu truyền thông tin cũng là các chuyên gia ghi nhớ. Họ có vai trò lưu giữ và truyền bá văn hoá nhân loại khi mà ngôn ngữ viết còn giới hạn. Chẳng hạn, những nghệ sĩ hát rong và thi sĩ đã lưu truyền những bí ẩn của Thượng Đế ở Hy Lạp cổ đại, và những triết giáo của sử thi như Odyssey của Homer đều được truyền miệng trước khi được ghi lại bằng văn bản. Công sứ của vua Pyrrhus, Cineas có thể nhớ tên tất cả các thành viên trong Thượng Nghị Viện và tước hầu La Mã chỉ trong một ngày. Vua Cyrus của Persia có thể nhớ tên của toàn bộ binh lính từng tham chiến trong đội quân của ông. Tổ tiên chúng ta biết rất nhiều cách để tăng cường khả năng nhớ, và cực kỳ coi trọng nó. Điều này đã được khám phá trong một cuốn sách hùng biện không tác giả với tên “Rhetorica ad Herenium” ra đời vào cuối những năm 80 trước Công Nguyên, thời La Mã cổ đại.

Nhưng mọi thứ đã thay đổi từ năm 1440, khi mà Johannes Gutenberg phát minh ra ngành in ấn. Số lượng sách tăng lên, chi phí và tốc độ viết sách giảm đi, vậy là chúng ta - những thế hệ sau này không cần phải ghi nhớ những sự kiện hay tranh luận, những cuốn sách đã làm điều đó. Hệ quả là trí nhớ của ta đã bị suy giảm.


Photo by Elizabeth Sanchez

Sherlock Holmes - nhân vật hư cấu vô cùng nổi tiếng của nhà văn Arthur Conan Doyle, là một thám tử đại tài nhưng lại không hề biết Trái Đất quay xung quanh Mặt trời, đã có màn đối thoại kinh điển với bác sĩ Waston:
 

  • Nghe này, đây là ổ cứng của tôi (chỉ tay vào não), và nó chỉ hữu ích khi tôi đưa vào đó những thứ hữu ích, thực sự hữu ích. Mọi người toàn lấp đầy não bằng những thứ vô dụng, đấy là lý do tại sao họ không thể lấy ra những thức hữu dụng khi cần. Anh thấy đúng không?
  • Nhưng đó là hệ Mặt trời đấy!

  • Thì làm sao?! Vậy là chúng ta quay quanh mặt trời! Ngay cả khi ta quay quanh mặt trăng hay đi loanh quanh vườn như mấy con gấu bông thì cũng chẳng có gì khác biệt cả. Cái tôi quan tâm là công việc!

Lập luận về “cách dùng não” của Sherlock Holmes không hề vô lý tẹo nào. Thực tế, không ít người vẫn hay rơi vào tình trạng “mất não”, hay không thể nghĩ, nhớ ra được gì khi cần.

“Bộ óc con người ban đầu như một gian phòng rỗng, ta sẽ phải xếp vào đấy những đồ đạc ta thích. Kẻ ngu ngốc chồng chất vào đó đủ mọi thứ linh tinh đến nỗi các tri thức có thể giúp ích cho hắn bị đè bẹp dưới một đống tri thức khác, đến nỗi khi cần, hắn khó mà lôi ra sử dụng được. Trái lại, người thợ lành nghề chọn lọc hết sức cẩn thận những thứ xếp vào trong gian phòng ấy. Anh ta chỉ muốn chứa trong đó những dụng cụ có ích cho mình trong công việc; cái nào cái nấy sắp đặt một cách thật ngăn nắp. Thật là sai lầm nếu cho rằng gian buồng nhỏ bé ấy có những bức tường co giãn và nó có thể phình ra vô cùng tận. Anh hãy tin rằng rồi sẽ đến lúc mà mỗi khi ta thu nhận được một hiểu biết mới ta sẽ quên mất cái kiến thức gì đó đã có trong óc. Vì vậy, chớ có thu nạp những khái niệm vô ích, chúng sẽ đẩy đi mất những điều có ích.” - Arthur Conan Doyle.

Liệu có phải lập luận này là lời giải thích cho tình trạng “học trước quên sau” phổ biến của học sinh? Tôi, bạn, tất cả chúng ta chắc hẳn đều đã trải qua những tình huống khó khăn, gấp gáp, nhưng lúc đó ta lại không thể nhớ ra được gì để giải quyết công việc một cách ổn thỏa, nhanh chóng, dù chính ta biết rằng mình dư sức làm được, rằng ta hoàn toàn có thể giải quyết vấn đề này dễ dàng. Tôi dám chắc không chỉ Sherlock Holmes mà còn nhiều người khác cho rằng trí nhớ là hữu hạn. Chúng ta nghi ngờ về bộ nhớ của mình. Có phải thực sự nó là hữu hạn, và ta chỉ nên nhớ những điều thực sự cần thiết? Joshua Foer, tác giả của cuốn “Moonwalking with Einstein” (Phiêu bước cùng Einstein) đã phản bác: Khả năng ghi nhớ của chúng ta giảm nhưng dung lượng bộ nhớ là không giới hạn, và chúng ta hoàn toàn có thể luyện tập để ghi nhớ được tốt hơn.

Ai dạy ta ghi nhớ?

Có một sự thật khá “bạc” rằng trường học dạy và bắt ta ghi nhớ rất nhiều nhưng lại không dạy ta cách nhớ. Mọi người đều biết, khối lượng kiến thức mà trường đưa cho học sinh là vô cùng đồ sộ, và người học bắt buộc phải ghi nhớ để biết, để hiểu, để làm bài kiểm tra. Nhưng đáng buồn là trường học lại không chỉ cho ta cách ghi nhớ, để ta tự “vật lộn” với núi tri thức khổng lồ và các bài kiểm tra, rồi sau cùng lại “chữ thầy trả thầy”. Tệ hơn, có những môn học mà chính cách dạy từ thầy cô vô tình hướng chúng ta đến lối “học vẹt”, chẳng hạn như Văn, Sử, và gián tiếp làm khả năng ghi nhớ của chúng ta lùi đi vài bước.

Photo by Timo Kuilder 

Sẽ có một số người lầm tưởng học vẹt cũng là một kiểu ghi nhớ, nhưng thực tế không phải như vậy. Buzan, nhà sáng lập Giải Vô địch Thế giới về Trí nhớ năm 1991 phân biệt: “Học vẹt là nguệch ngoạc những ấn tượng lên bộ não thông qua sự lặp đi lặp lại thô bạo - kiểu phương pháp “lặp nhiều nhớ sâu” cũ mòn. Thuật ghi nhớ, trái lại, là một cách nhớ thông tin tinh tế hơn bằng cách dùng các kỹ thuật. Nó nhanh hơn, đỡ mệt hơn, và tạo ký ức lâu dài hơn.

Vì sao lại nói học vẹt làm thui chột khả năng ghi nhớ? Trong cuốn “Moonwalking with Einstein”, Foer đã đưa ra nghiên cứu của nhà tâm lý học William James: Trong 8 ngày, ông đã dành hơn 2 tiếng mỗi ngày để ghi nhớ 158 dòng đầu bài thơ “Satyr” của Victor Hugo. Trung bình ông sẽ mất 50 giây để nhớ 1 dòng. Sau đó, ông tiếp tục thử sức với bài “Paradise Lost” của John Milton, nhưng kết quả là cần tận 57 giây cho 1 dòng. Có thể thấy, việc học vẹt bài thơ đầu tiên đã khiến cho khả năng ghi nhớ bài thơ thứ hai giảm xuống.

Trái ngược với thí nghiệm học vẹt là trường hợp nhóm “Một phần mười là nhân tài” của giáo viên dạy Sử Raemon Matthews ở trường cấp 3 South Bronx. Mỗi năm, ông chọn một vài em vào nhóm, dạy các em kỹ thuật ghi nhớ rồi cho họ tham gia vào cuộc thi Vô địch trí nhớ Mỹ. Matthews tin rằng thuật ghi nhớ sẽ là tấm vé cho các học sinh của ông thoát li khỏi khu vực mà cứ mười học sinh thì chín em bị điểm dưới trung bình môn đọc và toán, năm học sinh thì bốn em nhà nghèo, và gần nửa là không tốt nghiệp trường trung học. Kết quả đem lại vô cùng mỹ mãn. Những học sinh này không chỉ cải thiện khả năng ghi nhớ mà còn học tốt hơn ở trường. Trong vòng bốn năm qua, mọi học sinh thuộc nhóm Một phần mười là nhân tài đều vượt qua kỳ thi cuối cấp và 85% trong số đó đạt điểm 90/100 hoặc cao hơn.

Vậy nên, học cách nhớ sao cho đúng là điều cần thiết đối với học sinh.

Tôi dám chắc sẽ có độc giả thốt lên: “Tại sao phải học cách ghi nhớ trong khi chúng ta đã có điện thoại và giấy bút?”. Câu trả lời rất đơn giản, khả năng ghi nhớ tốt sẽ giúp bạn đạt được nhiều thứ hơn (tri thức, các mối quan hệ, công việc,...). Bạn nhớ được nhiều thì bạn học được nhiều, nếu muốn mở rộng giới hạn của mình thì bạn cần học cách ghi nhớ.

Con đường dẫn tới sự ghi nhớ

Trong sách, Ed Cooke, một đại kiện tướng người Anh tại cuộc thi Vô địch trí nhớ Hoa Kỳ đã nói: “Thật ra, trí nhớ của tôi cũng bình thường. Tất cả chúng ta đều có trí nhớ trung bình.” Vậy đâu là chìa khoá để chúng ta mở rộng hơn cánh cửa bộ nhớ của mình?

Photo by Elizabeth Sanchez

Chúng ta ghi nhớ mọi thứ tốt hơn khi đặt chúng ở trong bối cảnh cụ thể, bao gồm trực quan, cảm xúc, không gian. Ta nhớ món ăn trong buổi hẹn đầu tiên. Ta nhớ bài nhạc trong lễ bế giảng cuối cùng. Vì sao vậy? Thực ra, vùng “Hồi hải mã” trong não có liên quan đến cảm xúc, không gian, đồng thời cũng là nơi kiểm soát trí nhớ ngắn hạn và dài hạn. Lợi dụng điều này, một thành viên của Vox (nhóm chuyên phân tích mục đích đằng sau các mẩu tin tức được đăng lên báo) đã ghi nhớ thành công một đoạn trong cuốn “Moby Dick” (Cá voi trắng), cuốn tiểu thuyết kinh điển đồng thời cũng là một trong những cuốn sách khó đọc nhất từ trước đến giờ.

Hiểu được cốt lõi vấn đề, Foer đã tóm lược lại hai cách để cải thiện khả năng ghi nhớ trong sách của mình:

1. Phương pháp tập hợp

Ta có dãy số 1202200401022003. Bạn có thể thuật lại chúng chỉ sau một lần đọc không? Phần lớn là không. Nhưng nếu ta thử tách thành 12/02/2004 và 01/02/2003 thì sao? Dãy số vẫn như cũ, nhưng lại dễ nhớ hơn rất nhiều. Nếu 2 ngày trên có liên hệ gì với bạn thì còn tuyệt vời hơn nữa, chắc chắn bạn sẽ nhớ lâu đấy. Đây là phương pháp liên kết thông tin thành những tập tổng quát hơn, thuận lợi hơn cho việc ghi nhớ.

Tương tự với ví dụ gồm 22 chữ cái HEADSHOULDERSKNEETOES. Sẽ dễ hơn nhiều nếu bạn tách chúng thành các nhóm HEAD, SHOULDERS, KNEES, và TOES, tương đương với việc tổng hợp 22 đơn vị thông tin thành 4 tập. Đây cũng là những bộ phận cơ thể quen thuộc đúng không?

Về cơ bản, việc chia nhỏ thông tin ra thành các cụm dễ nhớ rồi tổng hợp lại sẽ đơn giản hơn thay vì bạn cố nhớ cả một lượng thông tin dài dằng dặc. Nó giống như trong truyện “Cây tre trăm đốt” vậy, việc cần làm chỉ là chặt từng đốt rồi “khắc nhập” lại. Thêm nữa, thông tin sẽ được lưu lại lâu hơn nếu bạn tạo được sợi dây liên kết cho nó đến bản thân mình. Bạn có nhận ra chúng ta luôn áp dụng cách này để ghi nhớ số điện thoại không? Hầu hết mọi người sẽ đọc và ghi nhớ số theo từng cụm 3-4 chữ số. SF, một sinh viên của trường Carnegie Mellon đã tiến hành thí nghiệm và phát hiện ra rằng kỹ thuật này liên quan đến cách lưu giữ thông tin trực tiếp vào trí nhớ dài hạn.

Những người đang cố gắng ngày đêm “cày cuốc” kho từ vựng tiếng Anh hoàn toàn có thể áp dụng phương pháp này. Giả dụ bạn muốn nhớ từ “adroit” (thành thạo, giỏi trong một việc gì đấy), hãy thử liên hệ “adroit” với “andoird” (robot), rồi tưởng tượng viễn cảnh một robot (android) chơi guitar rất giỏi (adroit) và các nghệ sỹ khác phải ngậm ngùi thua cuộc. Tôi dám chắc bạn sẽ nhớ từ “adroit” nhanh và dễ dàng hơn so với việc đọc đi đọc lại nhiều.

2. Mã hóa cụ thể

Đây là cách biến thông tin trở nên sinh động hơn. Qua quá trình tiến hoá, chúng ta thay vì phải nhớ những sự kiện mang tính trừu tượng thì có thể nhớ thông tin thu nhận được từ các giác quan để xử lý, ví dụ như mùi của một loại cây hay dấu vết để tìm đường về nhà. Vì thế, ta có thể lợi dụng đồng thời các giác quan và trí tưởng tượng để nhớ những gì cần nhớ.

Giả dụ như bạn cần mua bánh mì, rượu và nến. Vậy thì bạn có thể tưởng tượng chiếc bánh mì được đặt trên chiếc bàn ăn, bên cạnh là ngọn nến đã được thắp, còn tay bạn đang cầm ly rượu. Với bức tranh sinh động này, chắc chắn bạn sẽ nhớ được những thứ cần mua.


Ta có thể vận dụng hai quy tắc trên để nhớ những gì cụ thể nhất, tên người chẳng hạn. Bạn biết nghịch lý baker/Baker chứ? Các nhà nghiên cứu đã đưa một bức ảnh cho hai người. Người đầu tiên được cho biết tên của ông này là Baker. Người thứ hai được biết ông này là thợ làm bánh (baker). Một tuần sau hai người quay trở lại, tuy nhiên chỉ có người biết ông là thợ làm bánh nhớ được tên ông, người còn lại thì “bó tay”. Lý do ư? Vì người kia đã nhớ được thông tin qua ngữ cảnh. Khi biết người trong ảnh là thợ bánh, những thông tin liên quan sẽ được kích hoạt: đội mũ trắng, tay nhào bột, mùi thơm của bánh mới ra lò. Vậy nên, lần tới khi muốn nhớ tên ai, hãy xây dựng mối liên kết giữa cái tên và hình ảnh sống động nào đó.


Khi đã biết cách chuyển những ý tưởng trừu tượng thành dạng dễ nhớ, đã đến lúc bạn cần đặt chúng vào Cung điện bộ nhớ (Memory Palace) của mình. Vì não bộ chúng ta đặc biệt giỏi trong việc ghi nhớ nơi chốn nên đây là kỹ thuật rất hiệu quả. Giả sử bạn đến chơi nhà một người bạn, rồi ném áo của mình lên ghế sofa. Vậy khi ra về bạn biết mình cần ra chỗ ghế sofa, vì trong não bạn chiếc áo được gắn với chiếc ghế đó. Nếu ngôi nhà có đủ các các loại giường, tủ, bàn, ghế, và bạn đặt vài đồ rải rác lên chúng, thì khi cần lấy đồ bạn cũng chỉ cần đến chỗ những món nội thất đó thôi. Cung điện bộ nhớ hoạt động y như vậy: bạn gắn thông tin vào chỗ này chỗ kia, và khi nhớ lại thì bạn chỉ cần đi đến những chỗ đó.

Bạn có thể chọn một tuyến đường hay ngôi nhà thân thuộc với bạn. Bạn sẽ mở cửa, rẽ trái để đi vào phòng khách, và cứ đi như thế. Mấu chốt là mường tượng ra những thứ bạn cần ghi nhớ trên những điểm cụ thể trong căn nhà mà bạn chọn. Giờ hãy thử nhớ những vật dụng cần thiết để trồng cây. Bạn mở cửa đi vào nhà, nhìn thấy đồ xúc đất để cạnh đôi giày đầy bùn đất. Rẽ trái vào phòng khách, chiếc chậu cây đặt ở trên nóc tủ đồ. Mở tủ đồ, túi hạt giống nhảy ra, văng hạt tung toé. Đi vào phòng bếp, túi phân bón đang trốn dưới gầm bàn. Rẽ phải vào phòng tắm, bình tưới cây bị phủ đầy bởi bong bóng xà phòng. Hãy thử dùng chính ngôi nhà của mình làm chuẩn, và nhẩm lại xem mình có nhớ được hết các vật dụng không.

Người cao tuổi hoặc có bệnh liên quan đến trí nhớ sẽ không thể nhớ tốt?

Không ít người cho rằng sự suy giảm trí nhớ vốn là vấn đề tự nhiên, liên quan đến việc chức năng cơ thể con người suy giảm theo độ tuổi. Điều này không hẳn là đúng. Ta cần có một cái nhìn thực tế cho vấn đề này, rằng trí nhớ chúng ta kém dần là do ta sử dụng chưa hợp lý. Hãy thử tưởng tượng bộ nhớ của ta là một vận động viên Olympic, hằng ngày nốc 10 lon bia, ngồi máy tính 8 tiếng một ngày, lái xe đi làm, tập một vài bài tập cật lực hay quá sức mỗi tháng một lần, thời gian còn lại là xem tivi. Đó chính xác là những điều ta đang làm với bộ nhớ của ta. Rồi ta băn khoăn tại sao vận động viên đó không thi đấu tốt? Tại sao ta không nhớ được nhiều?

Photo by Oksana Grivina

Đối với những người bị bệnh ảnh hưởng đến trí nhớ, hãy đọc qua trường hợp của EP - người bị mất một phần trí nhớ sau khi bị virus phá huỷ phần thuỳ giữa thái dương trong não (phần não có vai trò chủ chốt trong việc ghi nhớ). Dù EP không thể học những điều mới để có thể nhắc lại sau đó, anh vẫn có thể làm việc đó trong vô thức.

Nhà tâm lý học Larry Squire đã đưa anh một danh sách 24 từ cần ghi nhớ. Trong vòng vài phút, tất nhiên anh không thể nhắc lại bất cứ từ nào, thậm chí còn quên luôn có một bài kiểm tra như thế. Sau đó, anh được ngồi trước máy tính với 48 từ được loé lên màn hình, tốc độ của mỗi từ xuất hiện là 25 phần nghìn giây, điều đó có nghĩa mắt anh cũng chỉ bắt được vài từ là cùng. Một nửa trong số từ được đưa ra là 25 từ EP đã nhận được trước đó. Điều ngạc nhiên là EP đã có thể nhắc lại tốt hơn các từ đó, mặc dù anh không ghi nhớ chúng một cách có ý thức.

Vậy nên, khả năng ghi nhớ có chủ ý hay vô thức đều tồn tại trong mỗi chúng ta. Giống như khi đạp xe vậy, không cần mỗi lần ngồi lên yên là phải cố gắng nhớ lại cách đạp xe như thế nào, ta vẫn đạp được. Những ký ức này thuộc về phần “kí ức không lộ diện”, là những ký ức ta không thể khơi gợi lại bằng ý chí. Trái với nó là “kí ức lộ diện”, phần ký ức có thể chủ động được gợi ra từ bộ nhớ của mình.

“Moonwalking with Einstein”: Cuốn sách gối đầu giường về bộ nhớ

Moonwalking with Einstein đã được Phủ Quỳ dịch và Nhà xuất bản Trẻ phát hành với tên gọi “Phiêu bước cùng Einstein”. Bạn có thể tìm mua tại nhà sách trên toàn quốc hoặc các trang web như Tiki.vn, Fahasa, Ybook. Sách rất dễ tìm, và nếu bạn muốn tìm hiểu nhiều hơn về bộ nhớ, khả năng ghi nhớ,  tôi khuyên bạn nên đọc để có thể hiểu một cách đầy đủ và sâu sắc nhất những gì tác giả muốn truyền tải. Nếu bạn có khả năng đọc được bản gốc tiếng Anh thì còn tuyệt vời hơn nữa, vì không những bạn sẽ hiểu được toàn vẹn hơn mà còn có thêm cơ hội luyện tập tiếng Anh, đặc biệt là trong kỳ nghỉ hè nhàn rỗi này.

Đây chắc chắn là một trong những cuốn sách hữu hiệu nhất về việc ghi nhớ. Nếu bạn vẫn chưa cảm thấy thuyết phục lắm, hãy tham khảo thêm những reviews dưới đây nhé.

“Tôi thích phong cách viết của anh ấy... vui vẻ và hấp dẫn. Các chương giới thiệu thật tuyệt vời, một phương pháp tôi học được trong lúc đi tàu (trong nửa giờ) cho phép tôi về nhà và gây ấn tượng với con bằng cách viết xuống một số có 50 chữ số, sau đó tôi đã nhớ lại đúng thứ tự các chữ số đó.”

“Điều khiến Moonwalking với Einstein trở nên thú vị là sự pha trộn giữa việc học về những điều bạn chưa bao giờ biết rằng nó sẽ thú vị, có câu trả lời cho những câu hỏi mà bạn luôn muốn biết, một sự vận dụng thực tế hiệu quả đến ngạc nhiên, và cuối cùng nó được đưa vào một bối cảnh phong phú.”

“Hãy bỏ qua tiêu đề ngớ ngẩn. Bỏ qua trang bìa xấu xí. Đây là cuốn sách thú vị khi mà bạn đã bỏ qua hai yếu tố trên. Joshua Foer là một nhà báo, đã viết một câu chuyện về giải vô địch trí nhớ Hoa Kỳ, và ông trở nên cuốn hút hơn khi rèn luyện trí nhớ của mình sau một năm luyện tập như một ‘vận động viên trí tuệ’."


Chúng ta đều có trí nhớ như nhau. Điều khác biệt duy nhất chỉ là ta sẽ sử dụng bộ nhớ của mình như thế nào thôi!

ALicy
 

Nguồn tham khảo

http://tramdoc.vn/tin-tuc/tom-tat-sach-phieu-buoc-cung-einstein-n4yWW.html

https://www.goodreads.com/book/show/6346975-moonwalking-with-einstein