Ai xứng đáng được hưởng một nền giáo dục ưu tú?

Câu hỏi này đang được đưa ra tranh luận tại Massachusetts, nơi các bài viết của tòa án tranh cãi việc trường Harvard xem xét chủng tộc của sinh viên trong quá trình tuyển sinh được coi là “toàn diện”, và ở thành phố New York, nơi các chính trị gia đang cố gắng tăng lượng sinh viên da màu và các sinh viên Latin tại các trường trung học công lập hàng đầu.

Tuy nhiên trên thực tế, câu trả lời luôn luôn rõ ràng: Chỉ có giới thượng lưu mới là đối tượng thụ hưởng.

Trong khi các tiêu chuẩn về “sự xứng đáng” thay đổi theo thời gian, những trường học nổi bật và thậm chí cả các nhà phê bình của họ thường coi hệ thống tuyển sinh đó là một điều hiển nhiên. Ở Mỹ, tầng lớp thượng lưu hầu hết là người da trắng. Điều này đồng nghĩa rằng người Mỹ gốc Á và nhóm thiểu số như người Latin, người bản địa Mỹ và người Mỹ gốc Phi phải tranh đấu với nhau để giành được một vị trí trong những ngôi trường ưu tú.

Đây rõ ràng là trường hợp của Harvard. Một cố vấn tài chính tên Edward Blum, người từng dàn xếp Fisher v. Texas – một vụ kiện gần đây tại tòa án Tối cao chống lại Affirmative Action (Chính sách đặc cách dành cho những sắc tộc hay chủng tộc thiểu số) cũng là người đứng đằng sau vụ kiện chống lại Harvard. Nhưng thay vì cáo buộc Harvard thiên vị người da trắng, ông và nguyên đơn sử dụng lập luận rằng bị đơn có hành động phân biệt chủng tộc đối với người châu Á như một cách để chống lại Affirmative Action dành cho người da đen và người Latin.

Tuy nhiên, khi làm như vậy, họ vô tình bỏ qua một sự bất bình đẳng rõ ràng hơn trong quy trình tuyển sinh: Những ứng viên Harvard là vận động viên hoặc là con em của cựu sinh viên sở hữu một lợi thế đáng kể, và những ứng cử viên này phần đông là người da trắng và khá giả. Tuy vậy, cả trường đại học lẫn đội ngũ của ông Blum đều không nhận ra vấn đề này. Trong thực tế, nhân chứng – chuyên gia của ông Blum, nhà kinh tế học Peter Arcidiacono không nghiên cứu những ứng cử viên trong “hạng mục đặc biệt” này cho vụ kiện.

Thay vào đó, ông Blum và các nguyên đơn cho rằng những người nộp đơn là người da đen và người Latin bằng một cách không công bằng lại có cơ hội nhập học cao hơn so với các ứng viên gốc Á và ứng viên Mỹ có cùng thành tích học tập. Nhưng đó là một sự hiểu lầm không đáng có về cách thức quy định tuyển sinh của trường. Khi đánh giá hồ sơ, Harvard còn xem xét các phẩm chất không liên quan đến học tập như khả năng vượt qua khó khăn, điều không dễ phản ánh qua các phân tích định lượng.

Nếu ông Blum thực sự quan tâm đến sự công bằng, thay vào đó, ông Blum cần đặt câu hỏi về thước đo để đưa ra quyết định tuyển sinh, thường là những tiêu chí mang lại lợi ích cho người da trắng: Không chỉ việc ưu tiên tuyển sinh vận động viên và các cựu sinh viên mà còn việc xem xét tuyển sinh căn cứ vào đặc điểm khu vực địa lý. Hầu hết các thành phần chủng tộc thiểu số của Mỹ tập trung ở vùng bờ biển.

Thật vậy, nếu chỉ riêng tiêu chí chủng tộc được loại bỏ như một yếu tố trong quyết định tuyển sinh – như ông Blum muốn thì nhóm đạt được lợi nhiều nhất có thể không phải là người Mỹ gốc Á mà lại là người da trắng.

Đi xa hơn xuống Bờ Đông, thị trưởng Bill de Blasio của New York đã đề xuất đổi mới quy trình tuyển sinh tại tám trường học chuyên biệt của thành phố. Tám ngôi trường được ưa thích này tuyển sinh chỉ dựa trên cơ sở một bài kiểm tra chuẩn hóa. Cơ quan lập pháp tiểu bang đã thông qua một đạo luật vào năm 1971 để ngăn cản nỗ lực mở những ngôi trường này cho những học sinh người da đen ở New York, những học sinh này không đủ khả năng chuẩn bị cho bài kiểm tra và không có mạng để theo dõi quá trình nhập học.

Mục tiêu khiến cho những ngôi trường ưu tú này trở nên dễ tiếp cận hơn với hai phần ba học sinh trường công lập là người da đen và người Latin của ông de Blasio là một lý do hoàn toàn đáng để đấu tranh thay đổi đạo luật đó. Nhưng đề xuất của ông đã tạo nên sự thay đổi mạnh mẽ trong thành phố.

Điều này bao gồm các cải cách quy trình nhập học vào một phần ba các trường trung học trong thành phố để sàng lọc ứng viên thay vì xem xét sự quan tâm của học sinh đối với trường như trước đây. 78 trường trung học trong thành phố ưu tiên cho những học sinh sống ở khu vực lân cận. Ví dụ, người da trắng chiếm phần đông trong các trường học tại Quận 2 giàu có của Manhattan bởi chính sách tuyển sinh xem xét nơi học viên sống. Những trường chọn lọc này có số lượng trẻ em New York đông hơn nhiều so với các trường chuyên biệt do ông de Blasio đề xuất.

Nhưng thị trưởng chỉ “ra mặt” khi sự thay đổi đối với các trường trung học chuyên biệt trở nên rõ ràng hơn. Có thể ông sợ “đụng chạm” tới lợi ích của những vị phụ huynh da trắng. Không phải ngẫu nhiên mà các học sinh gốc Á chiếm số lượng đông nhất tại các trường chuyên biệt mà những học sinh da trắng từ các gia đình giàu có cũng chiếm số lượng đông không kém.

Trong một xã hội không bình đẳng, hệ thống giáo dục luôn tìm được cách để ưu tiên những ứng viên da trắng trong giới thượng lưu, cho dù đó là sự sai lệch trong việc đánh giá tính “xứng đáng” hay việc ưu tiên hơn cho các vận động viên và con em của cựu sinh viên hay việc thay đổi cách thức tuyển sinh.

Những chính sách tuyển sinh tiếp tục đẩy những học sinh da màu ra rìa trong khi đảm bảo rằng nhóm học sinh da trắng luôn luôn có vị trí trong trường. Để tiến tới một hệ thống công bằng hơn, chúng ta cần phải ngăn chặn những nỗ lực gieo rắc sự bất đồng giữa các cộng đồng thiểu số - điều ông Blum đang làm. Nhưng chúng ta cũng phải ngăn chặn những hệ thống giáo dục mà đằng sau cam kết tạo nên sự công bằng lại lặng lẽ duy trì hệ thống lạc hậu. Thay vì tập trung vào những học sinh đang ở ranh giới mong manh thì tốt hơn chúng ta nên hướng sự chú ý đến những phương pháp cơ bản trong tuyển sinh chọn lọc và các tổ chức giáo dục đang duy trì các đặc quyền cho người da trắng.

 
Biên dịch: Thảo Nguyên

Nguồn: New York Times (https://goo.gl/dnzZJi)